Skip to content

Skip to table of contents

Nhân Chứng Giê-hô-va

Chọn ngôn ngữ Việt

 CHƯƠNG 15

Chúa Giê-su “lập... sự công-bình trên đất”

Chúa Giê-su “lập... sự công-bình trên đất”

1, 2. Chúa Giê-su đã tức giận vào dịp nào, và tại sao?

RÕ RÀNG Chúa Giê-su đã tức giận—và ngài có lý do chính đáng. Bạn có thể thấy khó hình dung hình ảnh ấy, vì ngài vốn là người rất nhu mì. (Ma-thi-ơ 21:5) Dĩ nhiên ngài vẫn hoàn toàn tự chủ, bởi cơn giận của ngài là cơn thịnh nộ công bình. * Nhưng điều gì đã khơi dậy cơn giận của con người yêu chuộng hòa bình này? Ấy là một trường hợp bất công tột độ.

2 Chúa Giê-su quý trọng đền thờ ở Giê-ru-sa-lem. Trên khắp đất, đây là nơi thánh duy nhất hiến dâng cho việc thờ phượng Cha ngài ở trên trời. Người Do Thái đến từ nhiều vùng xa xôi để thờ phượng. Ngay cả những người Dân Ngoại kính sợ Đức Chúa Trời cũng đến thờ phượng trong sân đền thờ, là nơi dành riêng cho họ. Nhưng khi khởi sự thánh chức rao giảng, Chúa Giê-su vào đền thờ và gặp cảnh tượng đáng chê trách. Ôi, nơi ấy sao mà giống cái chợ hơn là nhà thờ phượng! Đền thờ đầy các con buôn và bọn đổi bạc. Tuy nhiên, đâu là sự bất công? Đối với hạng người này, đền thờ Đức Chúa Trời chỉ là nơi để bóc lột—thậm chí cướp bóc người khác. Cướp bằng cách nào?—Giăng 2:14.

3, 4. Sự bóc lột tham lam nào diễn ra trong nhà của Đức Giê-hô-va, và Chúa Giê-su đã có hành động nào để sửa chữa vấn đề?

3 Các nhà lãnh đạo tôn giáo đã qui định một loại đồng tiền đặc biệt dùng để nộp thuế đền thờ. Khách hành hương phải đổi tiền của họ để lấy những đồng tiền này. Vì vậy bọn đổi bạc kê bàn ngay trong đền thờ và ăn hoa hồng. Việc buôn bán súc vật cũng sinh lợi cao. Khách hành hương muốn dâng lễ  vật có thể mua của bất cứ người bán hàng nào trong thành, nhưng những người trông coi đền thờ dễ dàng viện cớ lễ vật không đạt tiêu chuẩn và bác bỏ. Tuy nhiên, những lễ vật mua ngay trong khu đền thờ thì chắc chắn được chấp nhận. Vì dân chúng lọt vào vòng thao túng như thế, nên đôi khi bọn con buôn đòi giá cắt cổ. * Điều này còn tệ hơn là việc trục lợi trắng trợn. Chẳng khác gì cướp bóc!

“Hãy cất-bỏ đồ đó khỏi đây!”

4 Chúa Giê-su đã không thể dung túng sự bất công dường ấy. Đây chính là nhà của Cha ngài! Ngài bện một cái roi dây, đuổi bầy bò và chiên ra khỏi đền thờ. Rồi ngài tiến đến lật đổ bàn của những người đổi bạc. Hãy tưởng tượng tất cả những đồng tiền văng tung tóe trên nền đá hoa! Ngài nghiêm nghị ra lệnh cho những người bán bồ câu: “Hãy cất-bỏ đồ đó khỏi đây”. (Giăng 2:15, 16) Xem chừng không ai dám phản đối con người can đảm này.

Con giống Cha

5-7. (a) Việc hiện hữu trước khi làm người đã ảnh hưởng thế nào đến quan điểm của Chúa Giê-su về công lý, và chúng ta học được điều gì từ gương của ngài? (b) Liên quan đến quyền tối thượng và danh của Đức Giê-hô-va, Đấng Christ đã đấu tranh chống những bất công như thế nào?

5 Đương nhiên sau đó những con buôn ấy đã trở lại. Khoảng ba năm sau, Chúa Giê-su cũng xử trí cùng một cảnh bất công ấy, lần này trích dẫn lời của chính Đức Giê-hô-va lên án những kẻ làm cho nhà Ngài thành ra “hang trộm-cướp”. (Lu-ca 19:46; Giê-rê-mi 7:11) Vâng, khi thấy cảnh bóc lột tham lam và đền thờ Đức Chúa Trời bị ô uế, Chúa Giê-su có cùng cảm nghĩ như Cha ngài. Và không có gì đáng ngạc nhiên! Không biết bao nhiêu triệu năm, Chúa Giê-su đã được Cha trên trời dạy dỗ. Do đó ngài thấm nhuần quan điểm của Đức Giê-hô-va về sự công  bình. Vì thế, nếu muốn hiểu rõ ràng đức tính chí công của Đức Giê-hô-va, cách tốt nhất là suy ngẫm gương mẫu của Chúa Giê-su Christ.—Giăng 14:9, 10.

6 Con độc sinh của Đức Giê-hô-va đã có mặt khi Sa-tan vô cớ gọi Giê-hô-va Đức Chúa Trời là kẻ nói dối và nêu nghi vấn về tính công bình của sự cai trị Ngài. Thật là lời vu khống trắng trợn! Người Con ấy sau đó cũng đã nghe Sa-tan nêu nghi vấn, cho rằng không ai phụng sự Đức Giê-hô-va vì lòng yêu thương, bất vụ lợi. Những lời vu cáo này chắc chắn đã gây đau đớn cho tấm lòng công bình của người Con này. Ngài hẳn nức lòng biết bao khi biết mình sẽ đóng vai trò chủ yếu trong việc làm sáng tỏ vấn đề! (2 Cô-rinh-tô 1:20) Ngài sẽ thực hiện điều ấy thế nào?

7 Như chúng ta học trong Chương 14, Chúa Giê-su Christ đã cung cấp câu trả lời tối hậu, không thể biện bác được, đáp lại lời vu cáo của Sa-tan công kích lòng trung kiên của các tạo vật của Đức Giê-hô-va. Do đó, Chúa Giê-su đặt nền tảng cho việc dứt khoát biện minh quyền tối thượng của Đức Giê-hô-va và làm thánh danh Ngài. Là Vua do Đức Giê-hô-va chỉ định, Chúa Giê-su sẽ thiết lập sự công bình của Đức Chúa Trời khắp vũ trụ. (Công-vụ 5:31) Lối sống của ngài khi còn ở trên đất đã phản ánh tương tự sự công bình Đức Chúa Trời. Đức Giê-hô-va phán về Chúa Giê-su: “Ta sẽ cho Thánh-Linh ta ngự trên người, người sẽ rao-giảng sự công-bình cho dân ngoại”. (Ma-thi-ơ 12:18) Chúa Giê-su đã làm ứng nghiệm những lời này như thế nào?

Chúa Giê-su làm sáng tỏ thế nào là “sự công-bình”

8-10. (a) Luật truyền khẩu của các nhà lãnh đạo tôn giáo Do Thái khuyến khích thái độ khinh bỉ những người không phải là Do Thái và phụ nữ như thế nào? (b) Bằng cách nào luật truyền khẩu đã làm cho luật Sa-bát của Đức Giê-hô-va trở thành gánh nặng?

8 Chúa Giê-su yêu mến và sống theo Luật Pháp của Đức Giê-hô-va. Nhưng các nhà lãnh đạo tôn giáo đương thời xuyên  tạc và áp dụng sai Luật Pháp. Chúa Giê-su nói với họ: “Khốn cho các ngươi, thầy thông-giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả-hình!... Các ngươi... bỏ điều hệ-trọng hơn hết trong luật-pháp, là sự công-bình, thương-xót và trung-tín”. (Ma-thi-ơ 23:23) Rõ ràng, những người dạy Luật Pháp Đức Chúa Trời đã không làm sáng tỏ thế nào là “sự công-bình”. Trái lại, họ đã làm lu mờ sự công bình của Đức Chúa Trời. Bằng cách nào? Chúng ta hãy xem xét một vài thí dụ.

9 Đức Giê-hô-va đã ra lệnh cho dân Ngài phải tách biệt khỏi những dân ngoại giáo chung quanh. (1 Các Vua 11:1, 2) Tuy nhiên, một số nhà lãnh đạo tôn giáo cuồng tín đã khuyến khích dân chúng khinh bỉ tất cả những người không phải là Do Thái. Thậm chí sách Mishnah còn ghi luật này: “Không thể gửi bò tại các quán trọ của dân ngoại vì họ bị nghi là hành dâm với thú vật”. Thành kiến với tất cả những người không phải dân Do Thái, theo kiểu vơ đũa cả nắm như thế, là bất công và trái ngược với tinh thần của Luật Pháp Môi-se. (Lê-vi Ký 19:34) Những luật khác do họ lập ra hạ thấp phẩm giá phụ nữ. Luật truyền khẩu nói rằng vợ phải theo sau, chứ không được đi bên cạnh chồng. Đàn ông được khuyến cáo không nói chuyện với phụ nữ nơi công cộng, ngay cả với vợ mình. Như trường hợp các nô lệ, phụ nữ đều không được phép làm chứng trước tòa. Thậm chí có cả một bài cầu nguyện chính thức, trong đó đàn ông cảm tạ Đức Chúa Trời vì họ không phải là phụ nữ.

10 Các nhà lãnh đạo tôn giáo đã chôn vùi Luật Pháp Đức Chúa Trời dưới hàng núi luật lệ và quy tắc do người đặt ra. Chẳng hạn, luật Sa-bát chỉ cấm làm việc trong ngày Sa-bát, dành riêng ngày đó cho việc thờ phượng, nghỉ ngơi và hồi phục về thiêng liêng. Nhưng những người Pha-ri-si làm cho luật ấy trở thành gánh nặng. Họ tự quyền định ra từng chi tiết thế nào là “công việc”. Họ quy định 39 hoạt động khác nhau, chẳng hạn như gặt hái hoặc săn bắn. Việc phân loại như thế phát sinh không biết bao nhiêu là thắc mắc. Nếu giết một con bọ chét trong ngày Sa-bát, đó có phải là săn bắn không? Nếu tuốt một nắm bông lúa để ăn trong lúc đi đường, có phải là gặt hái không? Nếu chữa bệnh cho người nào, có phải là làm việc không? Những vấn đề  như thế được giải quyết bằng những luật lệ cứng nhắc và chi tiết.

11, 12. Chúa Giê-su đã biểu lộ bất đồng của ngài như thế nào đối với những truyền thống phản Kinh Thánh của người Pha-ri-si?

11 Trong môi trường như thế, làm sao Chúa Giê-su giúp người ta hiểu thế nào là sự công bình? Trong lời dạy dỗ và trong lối sống, ngài đã có lập trường can đảm trước các nhà lãnh đạo tôn giáo. Trước tiên hãy xem xét một số điều ngài dạy dỗ. Thẳng thắn lên án vô số luật lệ do họ lập ra, ngài bảo rằng: “Các ngươi lấy lời truyền-khẩu mình lập ra mà bỏ mất lời Đức Chúa Trời”.—Mác 7:13.

12 Chúa Giê-su mạnh mẽ dạy rằng những người Pha-ri-si đã sai lầm về luật Sa-bát—rằng quả thật, họ đã hiểu sai mục đích của luật ấy. Ngài giải thích Đấng Mê-si là “Chúa ngày Sa-bát” vì vậy có quyền chữa bệnh cho người ta trong ngày đó. (Ma-thi-ơ 12:8) Để nêu rõ điểm này, ngài công nhiên thực hiện phép lạ chữa bệnh trong ngày Sa-bát. (Lu-ca 6:7-10) Việc chữa bệnh ấy cho thấy trước sự chữa lành mà ngài sẽ thực hiện khắp đất trong Triều Đại Một Ngàn Năm. Chính Thiên Kỷ đó sẽ là thời kỳ Sa-bát cực thịnh, khi cuối cùng cả nhân loại trung thành sẽ thanh thản sau nhiều thế kỷ đau khổ dưới gánh nặng của tội lỗi và sự chết.

13. Luật pháp nào ra đời do kết quả thánh chức trên đất của Đấng Christ, và luật ấy khác thế nào với tiền thân của nó?

13 Chúa Giê-su cũng làm sáng tỏ thế nào là sự công bình vì một luật pháp mới, tức “luật-pháp của Đấng Christ”, đã ra đời sau khi ngài hoàn thành thánh chức trên đất. (Ga-la-ti 6:2) Không giống như tiền thân của nó là Luật Pháp Môi-se, luật mới này phần lớn dựa trên nguyên tắc, không dựa trên một loạt những mệnh lệnh thành văn. Song, luật mới này vẫn có một số mệnh lệnh trực tiếp. Một trong những mệnh lệnh này Chúa Giê-su gọi là “điều-răn mới”. Chúa Giê-su dạy tất cả các môn đồ phải yêu thương nhau như ngài đã yêu thương họ. (Giăng 13:34, 35) Đúng, tình yêu thương quên mình là nét đặc trưng để nhận diện tất cả những người sống theo “luật-pháp của Đấng Christ”.

 Một gương mẫu sống về sự công bình

14, 15. Chúa Giê-su cho thấy ngài nhận biết phạm vi quyền hạn của mình như thế nào, và tại sao điều này làm chúng ta yên lòng?

14 Chúa Giê-su không chỉ dạy dỗ về tình yêu thương. Ngài sống theo “luật-pháp Đấng Christ”. Luật này thể hiện rõ trong lối sống của ngài. Hãy xem xét ba cách, qua đó Chúa Giê-su đã làm sáng tỏ thế nào là sự công bình.

15 Thứ nhất, Chúa Giê-su thận trọng tránh phạm bất cứ điều bất công nào. Có lẽ bạn đã từng thấy nhiều cảnh bất công xảy ra khi những người bất toàn sinh lòng kiêu ngạo, vượt quá phạm vi quyền hạn thích đáng của họ. Chúa Giê-su đã không như thế. Vào dịp nọ, một người đàn ông đến nói với Chúa Giê-su: “Thưa thầy, xin biểu anh tôi chia gia-tài cho tôi”. Chúa Giê-su trả lời thế nào? “Hỡi người kia, ai đặt ta làm quan xử kiện hay là chia của cho các ngươi?” (Lu-ca 12:13, 14) Đó không phải là điều đáng chú ý sao? Về trí tuệ, khả năng phán đoán, và ngay cả về thẩm quyền do Đức Chúa Trời ban cho, Chúa Giê-su vượt xa bất cứ người nào sống trên đất; song ngài lại từ chối, không muốn dính líu vào vấn đề này, vì ngài không được ban cho thẩm quyền quyết định về phương diện ấy. Chúa Giê-su luôn luôn khiêm tốn như thế, ngay cả trong nhiều thiên kỷ trước khi làm người trên đất. (Giu-đe 9) Việc khiêm tốn tin Đức Giê-hô-va sẽ quyết định điều gì là công bằng, nói lên nhiều điều về Chúa Giê-su.

16, 17. (a) Chúa Giê-su đã biểu hiện sự công bình như thế nào trong việc rao truyền tin mừng Nước Đức Chúa Trời? (b) Chúa Giê-su cho thấy quan điểm của ngài về sự công bình có tính thương xót như thế nào?

16 Thứ nhì, Chúa Giê-su biểu hiện sự công bình trong cách ngài rao truyền tin mừng Nước Đức Chúa Trời. Ngài không thiên vị. Thay vì vậy, ngài thành tâm cố gắng giảng cho mọi hạng người, bất kể giàu nghèo. Ngược lại, người Pha-ri-si khinh bỉ người dân thường nghèo khó, gọi họ bằng một từ khinh bạc là ʽam-ha·ʼa′rets, tức “dân quê mùa”. Chúa Giê-su đã can đảm hành động chống điều bất công ấy. Khi dạy dỗ tin mừng cho dân chúng—hoặc khi cùng ngồi ăn với họ, cho  họ ăn, chữa lành họ, hoặc ngay cả khi làm người chết sống lại cũng vậy—Chúa Giê-su ủng hộ sự công bình của Đức Chúa Trời, Đấng muốn tin mừng đến với “mọi người”. *1 Ti-mô-thê 2:4.

17 Thứ ba, quan điểm của Chúa Giê-su về sự công bình mang tính thương xót sâu sắc. Ngài gắng sức giúp những người có tội. (Ma-thi-ơ 9:11-13) Ngài sẵn lòng giúp những ai cô thế không thể tự bảo vệ. Chẳng hạn, Chúa Giê-su đã không hùa theo những nhà lãnh đạo tôn giáo khuyến khích việc nghi ngờ tất cả Dân Ngoại. Ngài đã thương xót giúp đỡ và dạy dỗ một số người dân này, dù sứ mạng chính yếu của ngài là đến với dân Do Thái. Ngài đồng ý thực hiện phép lạ chữa lành bệnh cho đầy tớ thầy đội La Mã và nói: “Ta chưa hề thấy ai trong dân Y-sơ-ra-ên có đức-tin lớn dường ấy”.—Ma-thi-ơ 8:5-13.

18, 19. (a) Bằng cách nào Chúa Giê-su đã đề cao phẩm giá phụ nữ? (b) Làm thế nào gương Chúa Giê-su giúp chúng ta thấy mối quan hệ giữa lòng can đảm và sự công bình?

18 Tương tự thế, Chúa Giê-su đã không tán thành các quan niệm phổ biến đương thời đối với phụ nữ. Thay vì thế, ngài đã can đảm thực hiện điều công bình. Giới phụ nữ Sa-ma-ri bị xem là ô uế như Dân Ngoại. Song, Chúa Giê-su đã không ngần ngại giảng cho người đàn bà Sa-ma-ri tại giếng nước ở thành Si-kha. Thực vậy, chính là với người đàn bà này, lần đầu tiên Chúa Giê-su xác định rõ ràng ngài là Đấng Mê-si đã hứa. (Giăng 4:6, 25, 26) Người Pha-ri-si chủ trương không dạy đàn bà về Luật Pháp Đức Chúa Trời, nhưng Chúa Giê-su đã bỏ ra nhiều thì giờ và năng lực để dạy dỗ phụ nữ. (Lu-ca 10:38-42) Mặc dù truyền thống đương thời cho rằng lời chứng của phụ nữ không đáng tin cậy, nhưng Chúa Giê-su đã nâng cao phẩm giá một số phụ nữ bằng cách ban cho họ đặc ân là những người đầu tiên thấy ngài được sống lại. Thậm chí ngài còn bảo họ đi  nói cho các nam môn đồ biết về sự kiện quan trọng này!—Ma-thi-ơ 28:1-10.

19 Đúng, Chúa Giê-su đã làm sáng tỏ cho các dân biết thế nào là sự công bình. Nhiều lần, chính ngài bị nguy hiểm khi làm thế. Gương Chúa Giê-su giúp chúng ta thấy rằng ủng hộ sự công bình chân chính đòi hỏi lòng can đảm. Ngài được gọi một cách thích hợp là “sư-tử của chi-phái Giu-đa”. (Khải-huyền 5:5) Hãy nhớ rằng sư tử biểu trưng cho công lý dũng cảm. Song, một ngày gần đây, Chúa Giê-su sẽ mang lại còn nhiều sự công bình hơn thế nữa. Ngài sẽ “lập... sự công-bình trên đất” theo nghĩa trọn vẹn nhất.—Ê-sai 42:4.

Vua Mê-si “lập... sự công-bình trên đất”

20, 21. Trong thời chúng ta, Vua Mê-si phát huy sự công bình trên khắp đất và trong hội thánh tín đồ Đấng Christ như thế nào?

20 Từ khi trở thành Vua Mê-si vào năm 1914, Chúa Giê-su đã phát huy sự công bình trên đất. Bằng cách nào? Ngài đảm nhiệm việc làm ứng nghiệm lời tiên tri nơi Ma-thi-ơ 24:14. Các môn đồ của Chúa Giê-su đã và đang dạy dỗ lẽ thật về Nước của Đức Giê-hô-va cho dân trên khắp đất. Giống như Chúa Giê-su, họ rao giảng một cách công bằng, không thiên vị và cố tìm cách cho mọi người—bất kể già trẻ, giàu nghèo, nam nữ—cơ hội tìm hiểu Giê-hô-va, Đức Chúa Trời chí công.

21 Chúa Giê-su cũng phát huy sự công bình trong hội thánh tín đồ Đấng Christ trên cương vị Đầu của hội thánh. Như đã hứa, ngài ban “món quà dưới hình thức người”, tức những trưởng lão trung thành dẫn đầu hội thánh. (Ê-phê-sô 4:8-12, NW) Khi chăn bầy chiên quý của Đức Chúa Trời, những trưởng lão này noi gương Chúa Giê-su trong việc phát huy sự công bình. Họ luôn nhớ rằng Chúa Giê-su muốn chiên của ngài được đối xử công bằng—bất kể địa vị, tiếng tăm, hoặc hoàn cảnh tài chính.

22. Đức Giê-hô-va cảm thấy thế nào về các cảnh bất công lan tràn trong thế gian ngày nay, và Ngài đã chỉ định Con Ngài thực hiện điều gì?

22 Nhưng, trong tương lai gần Chúa Giê-su sẽ lập sự công bình trên đất theo một cách xưa nay chưa từng có. Ngày nay sự bất  công lan tràn trong thế gian thối nát này. Mỗi trẻ em chết đói là nạn nhân của sự bất công, một cảnh bất công không thể bào chữa được, nhất là khi chúng ta nghĩ đến thì giờ và tiền bạc phung phí vào việc chế tạo vũ khí chiến tranh và việc thỏa mãn những ham muốn ích kỷ của những kẻ tìm lạc thú. Hàng triệu cái chết vô ích mỗi năm chỉ là một trong nhiều hình thức bất công; tất cả những cảnh bất công ấy khơi dậy lòng phẫn nộ công bình của Đức Giê-hô-va. Ngài đã chỉ định Con Ngài phát động một cuộc chiến tranh công bằng chống lại toàn thể hệ thống ác này, nhằm chấm dứt vĩnh viễn mọi bất công.—Khải-huyền 16:14, 16; 19:11-15.

23. Sau Ha-ma-ghê-đôn, làm thế nào Đấng Christ sẽ phát huy sự công bình cho đến vô tận?

23 Tuy nhiên, sự công bình của Đức Giê-hô-va không chỉ đòi hỏi việc hủy diệt kẻ ác. Ngài cũng đã bổ nhiệm Con Ngài cai trị trên cương vị “Chúa Bình-an”. Sau chiến tranh Ha-ma-ghê-đôn, triều đại của Chúa Giê-su sẽ thiết lập hòa bình trên khắp đất và ngài sẽ cai trị “trong sự chánh-trực công-bình”. (Ê-sai 9:5, 6) Bấy giờ Chúa Giê-su sẽ vui thích xóa bỏ tất cả những cảnh bất công đã gây không biết bao nhiêu khổ sở, đau đớn trên thế giới. Ngài sẽ trung thành ủng hộ sự công bình hoàn hảo của Đức Giê-hô-va cho đến vô tận. Vậy điều trọng yếu là chúng ta cố noi gương công bình của Đức Giê-hô-va ngay ngày nay. Hãy xem cách chúng ta có thể làm điều đó.

^ đ. 1 Khi biểu lộ sự phẫn nộ công bình, Chúa Giê-su giống như Đức Giê-hô-va, Đấng “thạnh-nộ” đối với tất cả điều ác. (Na-hum 1:2) Chẳng hạn như sau khi Đức Giê-hô-va bảo với dân ương ngạnh rằng họ đã làm cho nhà Ngài thành “hang trộm-cướp”, Ngài phán: “Cơn giận và sự thạnh-nộ của ta sẽ đổ xuống trên xứ nầy”.—Giê-rê-mi 7:11, 20.

^ đ. 3 Theo sách Mishnah, vài năm sau có vụ phản đối giá bán bồ câu quá cao tại đền thờ. Giá cả lập tức giảm khoảng 99 phần trăm! Ai trục lợi nhiều nhất từ việc trao đổi béo bở này? Một số sử gia cho rằng gia đình Thầy Cả Thượng Phẩm An-ne làm chủ các khu chợ trong đền thờ, việc này góp phần lớn vào tài sản khổng lồ của gia đình thầy tế lễ.—Giăng 18:13.

^ đ. 16 Người Pha-ri-si xem dân thường, những người không thông thạo Luật Pháp, là dân “đáng rủa”. (Giăng 7:49) Họ nói rằng không nên dạy dỗ, buôn bán, ăn uống và cầu nguyện chung với những người ấy. Cho phép con gái kết hôn với người nào trong số những người này thì còn tệ hơn là đưa con cho thú dữ. Họ cho rằng những người địa vị thấp kém ấy không có hy vọng sống lại.